Con đường trà Việt – Kỳ 3: Mơ về một “thánh địa” chè Việt

Nếu chè cổ thụ Suối Giàng là tặng vật của dãy Hoàng Liên Sơn khi ghé chân về miền Yên Bái, thì những vùng chè cổ ở Hà Giang gắn liền với dãy Tây Côn Lĩnh vòi vọi miền cực Bắc đất nước.

Chè cổ thụ Suối Giàng mang màu sắc của miền thượng giới, thì chè cổ thụ Hà Giang có dáng dấp can trường và nghĩa khí của những hiệp khách biên ải. Câu chuyện giữa ông Ngô Viết Thành với chúng tôi trong một buổi sáng Hà Giang vừa trở rét, sắt se cơn gió mùa đông bắc cứ thao thức những nỗi niềm…

 

Những cây chè cổ thụ này đã là một bảo chứng tin cậy để Suối Giàng trở thành “thánh địa chè shan tuyết” của Việt Nam – Ảnh: Ngọc Quang

 

Từ Hà Giang nghĩ về chè Phổ Nhĩ

Vốn là một kỹ sư xây dựng thủy lợi, sau khi về hưu ông Thành lập công ty xây dựng, nhưng rồi khi khám phá những rừng chè cổ thụ cực kỳ quý hiếm của Hà Giang lại không giúp cuộc sống bà con người Mông, người Dao khấm khá hơn, ông chuyển hướng đến với cây chè. Công ty TNHH Thành Sơn đã ra đời và làm nên thương hiệu chè shan tuyết Thành Sơn có tiếng. Một trong những trăn trở lớn nhất của ông Thành là làm sao để nguồn nguyên liệu của giống chè cổ thụ shan tuyết quý hiếm này phải đạt tới giá trị gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Bởi một điều rất đơn giản là cũng với một vùng nguyên liệu như Hà Giang đang có, thậm chí chất lượng nguyên liệu chưa hẳn đã hơn shan tuyết Hà Giang, nhưng những người làm chè ở Vân Nam (Trung Quốc) đã sản xuất ra loại chè Phổ Nhĩ với giá bán lên tới cả trăm nghìn USD/kg nếu loại chè này được để lâu năm.

Trong giấc mơ của mình, thay vì từ nguyên liệu shan tuyết để chế biến ra loại chè vàng bình thường, ông Thành thiết tha đề xuất Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc cần khẩn cấp tư vấn cho người dân vùng Tây – Đông Bắc về quy trình kỹ thuật trồng, chế biến nguyên liệu để cho ra thành phẩm chè kiểu như Phổ Nhĩ. Theo ông, nếu làm được như thế, từ nguồn nguyên liệu của hơn 40.000ha chè shan tuyết Hà Giang, giá trị cuối cùng của sản phẩm chè hẳn là một con số đủ sức thay đổi cuộc sống hàng vạn người dân Mông, Dao, Tày… trên biên cương cực Bắc. Mơ ước ấy không chỉ riêng của ông Ngô Viết Thành, chúng tôi đã gặp những con người sống chết với cây chè shan tuyết để mang khát vọng trà Việt xứng danh với vị trí thủy tổ cây trà thế giới…

Nỗi lòng thương hiệu “Suối Giàng”…

 

“Chè chốt”

Ông Ngô Viết Thành kể rằng: Trong những năm chiến tranh biên giới phía Bắc, lính của ta trên các cao điểm đã phát hiện những cây chè cổ thụ này. Những phút “hưu chiến” giữa các trận đánh, anh em hái những chồi búp của giống chè shan tuyết cổ thụ quanh năm dầm trong sương giá, có lẽ chưa bao giờ biết tới hơi người, mọc quanh cao điểm rồi rang sao lên, vừa làm thức uống cho mình, vừa dành dụm gửi về làm quà cho bạn bè, gia đình ở quê. Vì chè được làm ra trên các chốt cao điểm nên quen gọi là “chè chốt” hay “chè lính”.

Trên một quãng phố của TP Yên Bái, chúng tôi đếm hàng chục tiệm trưng biển chè Suối Giàng, xa hơn, nhiều thành phố khác như Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang… tới tận Hà Nội, Sài Gòn cũng không ít tiệm bán chè “Suối Giàng”. Nhưng với sản phẩm 400 tấn chè tươi, cho ra 100 tấn chè khô mỗi năm, chè Suối Giàng ở đâu mà lắm thế?

 

Trao đổi điều này với ông Nguyễn Hợp Đoàn, phó chủ tịch UBND huyện Văn Chấn, được lời như cởi tấm lòng, ông Đoàn tuôn trào ấm ức: “Ai cũng biết chè Suối Giàng thật chỉ có một, nhưng chè núp dưới tên Suối Giàng thì có khắp cả nước. Giờ thì huyện chỉ biết tập trung phát triển vùng chè cổ thụ đúng theo nghĩa tự nhiên nhất. Chúng tôi từng có kế hoạch phát triển chè shan tuyết bằng cách giâm cành, bón phân để nhanh có chè thu hoạch, nhưng để bảo tồn nguồn gen của chè Suối Giàng, giờ đây huyện quyết định trồng chè bằng cách gieo hạt từ nguồn giống lấy từ những cây chè cổ thụ tốt nhất”.

Chị Lâm Thị Kim Thoa, chủ nhiệm HTX chè Suối Giàng, vốn là cán bộ Công ty Thương mại và du lịch tỉnh Yên Bái đã “rẽ ngang” sang làm chè chỉ bởi quá xót xa khi thấy chè Suối Giàng bị “đánh lận con đen” quá nhiều. Cùng với vài người bạn ở Suối Giàng và đặc biệt là anh Nguyễn Mạnh Bình, chồng chị, vốn gắn bó lâu với Suối Giàng, nắm vững các kỹ thuật chế biến chè riêng có tại đây. Sản phẩm của HTX Suối Giàng chưa nhiều, mỗi năm chỉ chừng vài tấn, nhưng như chị Thoa nói cố mà làm chè đúng nghĩa Suối Giàng, xây dựng thương hiệu riêng với niềm hi vọng “hữu xạ tự nhiên hương” mà đánh bạt đi những Suối Giàng giả hiệu đang nhan nhản trên thị trường. “Tuyết Sơn trà” là thương hiệu chè shan tuyết của HTX chè Suối Giàng do chị Thoa làm chủ nhiệm.

Ước mơ từ “thủ phủ” chè shan tuyết…

Suối Giàng hội đủ điều kiện để trở thành một “thánh địa” của chè cổ shan tuyết. Chỉ riêng cái khí hậu ôn đới như Đà Lạt hay Sa Pa của Suối Giàng đã khiến người ta thèm được đắm mình trong không gian bốn mùa mỗi ngày như thế này rồi. Cứ tưởng tượng con đường từ Văn Chấn lên Suối Giàng quanh co với mây núi bao bọc, ẩn sau một khúc cua là bất ngờ một quán trà hiện ra với những sơn nữ sao chè theo cách thủ công, rồi mời khách thưởng thức cái hương vị riêng có của cây chè nơi miền trời đã đủ cho lòng hưng phấn. Huống nữa, quanh những khu đồi miên man bóng chè kia, xen lẫn là những vạt pơmu dáng trầm mặc mà kiêu hãnh.

Không cần chi những biệt thự hoa lệ, hãy làm những ngôi nhà lợp bằng gỗ pơmu như người Mông bao thế kỷ nay vẫn quần tụ dưới chân đỉnh núi Chông Páo Mùa. Đó là những nếp nhà thơm sực mùi nhựa pơmu và tấm “ngói” bằng gỗ pơmu ấy biết cong lên dưới ánh nắng trưa cho những tia nắng lọt vào nhà, soi “những hạt bụi thành hạt vàng” như ý một câu thơ. Và khi mưa xuống, mái gỗ ấy biết khép lại úp khít lên che những hạt mưa xiên khoai.

Giữa rừng chè cổ thụ đẹp như những bonsai qua hàng bao thế kỷ ấy, trong những nếp nhà thơm mùi nhựa pơmu và hương hoa chè dịu ngọt, du khách bên bếp lửa tự tay pha ấm trà với những búp móc câu phủ lớp tuyết óng ánh bạc, nhìn qua cửa sổ mây đang giăng màn trên đỉnh núi, hay phóng tầm mắt qua lan can hiên nhà sàn để thấy cánh đồng Nghĩa Lộ – Văn Chấn huyền ảo trong sương sớm, hẳn không một du khách nào không cảm giác Suối Giàng chính là “miền trời” nơi hạ giới.

Tất nhiên tất cả những điều đó có là hiện thực hay không thì còn phải chờ đợi. Dù trên dự án để đưa Suối Giàng thành một thủ phủ của chè shan tuyết cổ thụ các thông số đã thành hình.

Có dịp đi ra xứ người, ghé thăm những làng trà của người ta đưa vào khai thác du lịch, mới biết chúng ta hơn hẳn về cảnh sắc, hơn hẳn vị chè và những gốc chè cổ thụ qua bao thế kỷ như Suối Giàng thì xứ người không làm sao có được, vậy mà người ta vẫn khiến hàng triệu du khách ghé đến mỗi năm.

LÊ ĐỨC DỤC – ĐỨC BÌNH (Tuổi Trẻ 13/11)

Trà Việt, Uống trà , , , ,

Con đường trà Việt – Kỳ 2: Huyền thoại chè “shan tuyết”

Đến với Suối Giàng, chắc chắn bạn sẽ được những người Mông kể cho nghe câu chuyện về đàn khỉ hái chè, rằng trước đây để khỏi leo lên cây chè hái, người dân nơi đây đã huấn luyện cho khỉ hái chè.

 

Cây chè “tổ” cổ thụ ở Suối Giàng hiện nay- Ảnh: Việt Dũng

 

>> Kỳ 1: Nơi “thủy tổ” của chè rừng Việt

Những chồi chè trên chót vót cành cao, chênh vênh rìa núi mép vực đã được bầy khỉ hái và ném gọn gàng vào quẩy tấu (gùi), rồi dân cứ thế gùi về nhà sao chế. Câu chuyện ít nhiều mang màu sắc huyền thoại về đàn khỉ hái chè ấy nay không còn gặp, nhưng hình ảnh những gốc chè cổ thụ với thân nhánh vạm vỡ thì vẫn còn nhìn thấy.

Những cây chè qua hàng chục đời người…

Anh Giàng A Đằng đang sở hữu một vườn chè với những gốc chè cổ thụ trong khu vườn nằm ngay trên lối vào trụ sở UBND xã Suối Giàng. Gia đình anh cũng đang sở hữu một thương hiệu khá tiếng tăm của Suối Giàng là “Đằng Trà”. “Đằng Trà” cũng có nghĩa là trà của nhà ông Đằng, nhưng Trà cũng là tên người vợ của anh, tên “Chà” đọc chệch từ chữ “trà”. Khu vườn với sáu gốc chè “huyền thoại Suối Giàng” của anh Đằng nay được giao cho con gái và người con rể trông nom. Sừng sững trong sương giá, những gốc chè có tuổi gần 300 năm ấy vẫn cứ đâm chồi xanh mướt mát hết lứa này đến lứa khác. Bố của anh Giàng A Đằng là cụ Giàng A Lữ, năm nay 78 tuổi. Cụ Lữ cũng là người chủ tế trong buổi lễ cúng cây chè tổ vào mỗi dịp đầu năm sau Tết âm lịch. Cứ bình quân mỗi thế hệ là 20 năm, với tuổi đời hơn 300 năm, dễ thường những cây chè trong vườn anh Đằng đã đi qua hơn chục đời người và tiếp tục xanh cùng bao nhiêu đời cháu con trong tộc hệ.

Từ đời cụ kỵ xa xưa đến đời cụ Lữ, rồi đến anh Đằng, và nay là con và cháu của anh đã thấy những cây chè ấy mọc ngay bên hè nhà. Chỉ cần với tay qua ô cửa là có thể bứt được nắm chè thả vào nồi nước thơm ngan ngát mỗi bình minh trong căn nhà lợp bằng những mảnh gỗ pơ mu, bốn mùa mây phủ sương giăng. Từ trụ sở ủy ban xã, theo con đường bêtông đi một vòng quanh rừng chè, lúc chìm trong mù mây vây bọc dáng vẻ cổ thụ của thân chè, sự tinh khiết của núi rừng, hương thơm của hoa chè đang trổ ngan ngát, những đám mây luồn lách qua cung đường núi, lòng chợt thầm tiếc là Suối Giàng đã không trở thành một Sa Pa hay Tam Đảo, nhưng rồi chợt mừng là may mà Suối Giàng chưa bị cơn lốc du lịch kéo đến.

Nhưng không chỉ là những thân cây chè to, điều làm nên huyền thoại Suối Giàng chính là tên gọi “shan tuyết” riêng có. Shan, theo nhiều người chỉ là cách đọc của “Sơn” – tức là núi, nhưng chè shan tuyết không phải là chè trên núi tuyết. Thoạt đầu, nghe đến shan tuyết chúng tôi cũng ngỡ đấy là vùng chè trên những núi tuyết. Mà Việt Nam làm gì có núi tuyết? Hóa ra không phải thế. Những ngày theo dấu hành trình cây chè Việt ở vùng Tây Bắc, Việt Bắc, chúng tôi thật sự bất ngờ khi nhìn thấy những búp “tuyết trà” với một vẻ đẹp không thể hình dung nổi nếu không tận mắt nhìn thấy.

Bí mật của “tuyết” và chè “5 cực”

Chị Triệu Thị Oanh, chủ nhân của một cơ ngơi bán chè và đá cảnh lớn nhất Suối Giàng, đã mời chúng tôi ghé thăm và thưởng thức những ấm trà shan tuyết siêu hạng chỉ riêng nhà chị mới làm ra được. Và công lao sáng tạo chè “5 cực” chính là chồng chị, anh Lê Quang Tùng. Vốn từ một nhân viên bảo vệ của Nhà máy chè Vạn Hưng, nhưng tình yêu với hai đặc sản của Suối Giàng là chè và đá cảnh, sau mấy chục năm gắn bó nay anh Lê Quang Tùng xứng danh là một “đại gia” của Suối Giàng.

Đó là những búp chè thay vì nhặt ra “một tôm – hai lá” như bình thường, chị chỉ chọn lấy một tôm (búp non duy nhất trên chồi cây) mà cũng không phải là loại tôm bình thường, đó phải là những búp chè được ngậm sương, trên bề mặt búp phủ một lớp óng ánh bạc như tuyết. Gói chè chị mang ra là những búp khô có màu vàng kiêu sa được phủ một lớp bạc. Chỉ vào lớp bạc như nhũ trên tôm chè, chị Oanh giải thích: cái lớp nhũ bạc phủ trên tôm này mới đích thị là “tuyết chè”, chè ngon nhiều hay ít phụ thuộc vào lớp tuyết này. Để hái được chè với lớp tuyết đẹp như thế này cũng là một kỳ công, không phải cứ hái là được “tuyết chè”.

Thường cây chè vùng Suối Giàng mỗi năm thu hái được ba vụ. Vụ xuân vào tầm tháng 2-3 âm lịch, đây là vụ cho chè chất lượng tuyệt hảo nhất. Chịu đựng giá buốt suốt mùa đông núi cao, rồi ngậm từng hạt sương sớm lúc giao mùa, ủ từng khối mù mây mỗi sớm, cây chè shan tuyết Suối Giàng bừng thức khi mùa xuân tràn về. Những chồi non của chè lúc này hội tụ trong nó tất cả tinh túy của trời đất thiên nhiên, sương gió, mù mưa của miền rẻo cao, mùa xuân đẹp viên mãn trong lớp tuyết bạc lấp lánh dát trên mỗi lá chè, mỗi búp chè.

Từ nguồn nguyên liệu thượng hạng này, vợ chồng chị Oanh đã thêm một lần nữa biến nó thành “siêu hạng” để cho ra đời loại chè shan tuyết “5 cực”.

Gọi là “5 cực” bởi đó là loại chè “cực khổ”, để hái được là một kỳ công, do chỉ có thể hái nó được một vụ trong năm và mỗi vụ chỉ được hái trong vài ngày viên mãn nhất của mùa thu hoạch thay vì hái 3-4 vụ như các loại chè khác. Người hái phải thức dậy lúc tinh mơ, trước khi ánh nắng rọi lên lá kích thích quá trình quang hợp làm tăng vị chát, mất mùi hương, giảm chất lượng chè. Đó là loại chè “cực ngon” bởi được tuyển lựa cực kỳ kỹ lưỡng, chỉ chọn búp non duy nhất (gọi là một tôm), búp phải mẩy, căng, đậm tuyết, và gọi là “cực sạch” bởi trên độ cao gần 1.400m, chè shan tuyết Suối Giàng không hề biết đến thế nào là thuốc trừ sâu hay phân hóa học. Vẻ đẹp lão trượng dạn dày sương gió của cây chè núi cao dị ứng với tất cả những can thiệp của con người, chỉ có đất trời sương giá “miền thượng giới” nuôi búp chè bừng thức.

Chưa hết, chè còn được gọi là cực đẹp chính là hệ quả của một quá trình từ thu hái, chọn lựa, sao chế, bởi để chế biến ra, vợ chồng chị Oanh có riêng một công thức sao chế loại chè này từ thứ than củi bằng gỗ sến. Chỉ với loại than này nhiệt lượng cung cấp cho quá trình sao chế đạt tới độ cần thiết để chè dậy hương. Nhìn búp chè dày tuyết được ủ gọn trong túi bóng được xử lý chân không đã mê chứ chưa nói đến chuyện pha uống. Và chính vì cực khổ, cực ngon, cực sạch, cực đẹp nên giá nó là cực đắt. Giá hiện nay của một cân chè “5 cực” bán ngay tại nhà chị Oanh là 2 triệu đồng. Mà cũng không phải khi nào cũng có để bán. Chị Oanh hài hước “Người ta gọi chè này là chè “5 cực” nhưng cũng có thể gọi nó là chè… “2 không”, vì người mua thường không được uống, và người uống lại thường không phải mất tiền mua (!)”.

LÊ ĐỨC DỤC – ĐỨC BÌNH

Trà Việt, Uống trà , , , ,

Con đường trà Việt – Kỳ 1: Nơi “thủy tổ” của chè rừng Việt

Từ những gốc chè cổ thụ ở miền quê Yên Bái cho tới những đồng chè bát ngát của trung du Thái Nguyên, hay tận miền cao nguyên Bảo Lộc của phương Nam… Người Việt đã hình thành một “văn hóa trà” mang đậm tính đặc trưng trong suốt hành trình khai phá, trưởng thành và phát triển.

Những câu chuyện thú vị nhân Festival trà quốc tế diễn ra ở Thái Nguyên từ ngày 11 đến 15-11-2011.

Để hái chè cổ thụ, những người phụ nữ này phải trèo lên cây – Ảnh: Ngọc Quang

 

Dù đã từng nhìn thấy những cây chè (trà, theo cách gọi trong Nam) ấy trên ảnh, trong phim, nhưng khi tới xã Suối Giàng (huyện Văn Chấn, Yên Bái) áp tay lên lớp địa y phủ mốc thếch trên thân cây chè cổ thụ gân guốc chúng tôi vẫn không khỏi bất ngờ. Xưa nay nói đến cây chè, ai cũng hình dung những đồi chè lúp xúp trên những bình nguyên, không thể tin có những cây chè cao hàng chục mét và thân rộng cả vòng tay ôm như thế này..

Báu vật ở “miền trời”…

Sổng A Nủ, chủ tịch xã Suối Giàng, cẩn thận tráng ấm, cho vào một vốc chè móc câu anh ánh bạc và nói với chúng tôi: “Muốn viết về chè Suối Giàng thì phải uống chè Suối Giàng đã mới có cảm xúc mà viết!”.

Chiết chè ra chiếc chén nhỏ trên khay, màu nước óng vàng và hương thơm dậy theo chén chè bốc khói, dù là người không sành về chè nhưng quả thật, đến với Suối Giàng – “đệ nhất kỳ quan trà Việt” – vẫn thấy trong mình lâng lâng khinh khoái như một đệ tử của trà đạo. Chủ tịch xã Sổng A Nủ nheo mắt cười cười: “Nhìn rồi, ngửi rồi, giờ nếm thử đi…”. Nhấp ngụm trà sóng sánh, một cảm giác tê đắng, chan chát đầu lưỡi vừa lan ra đã biến thành vị ngọt rất hậu. Nhưng câu chuyện về hương và vị của chè Suối Giàng chúng tôi sẽ nói thêm ở phần sau.

Giờ thì chúng tôi đang đi trong miên man bạt ngàn của rừng chè cổ thụ. Đang là tháng mười miền Tây Bắc, mây trắng vẫn giăng giăng qua những đồi chè. Từ độ cao trung bình 1.371m của Suối Giàng nhìn xuống thung lũng Nghĩa Lộ – Văn Chấn kéo dài hàng chục cây số đang ửng vàng sắc lúa, rồi nhìn lên đỉnh Chông Páo Mùa chìm trong mây, càng thấm thía cái tên Suối Giàng – miền thượng giới, bởi trong tiếng Mông, Giàng chính là Trời. Và những cây chè cổ thụ này chính là báu vật của miền trời ban tặng riêng cho Suối Giàng

Những cây chè ở “miền trời” cứ mê hoặc dẫn dụ chúng tôi đi, từ bản Giàng A đến Giàng B qua Pang Cáng, đến Tập Lăng. Hơn 8 vạn cây chè cổ tập trung thành một quần thể rộng lớn chưa từng có ở bất cứ đâu. Nếu nói về những cây chè có thân to, chúng tôi đã gặp ở Sín Chải, Lao Chải, Cao Bồ… (thuộc huyện Vị Xuyên, Hà Giang) nhưng tập trung quần tụ sum vầy làm nên một miền chè cổ thụ kỳ thú như thế này có lẽ Suối Giàng là nơi duy nhất.

Đưa chúng tôi ra hội trường ủy ban xã, treo trang trọng phía góc phải của hội trường là tấm hình một cây chè “thủy tổ” với thân chè to bằng hai vòng tay ôm. Và hai người ôm cây chè trong tấm hình lịch sử này là Phó thủ tướng Phạm Hùng và Bộ trưởng Bộ Nội thương Nguyễn Thanh Bình chụp vào ngày 9-9-1962.

Trong tấm hình đen trắng được chụp từ nửa thế kỷ trước là hình ảnh một “lão trà” đại cổ thụ cao hơn 10m và tầm phủ tán rộng hàng chục mét vuông. Khi chúng tôi đề nghị được đến thăm cây chè trong ảnh, anh Sổng A Nủ nói rằng cây chè đó đã chết vì bị mối đục thân từ mấy năm trước và chủ nhân cây chè đã bổ nó ra làm củi! Cây chè trong tấm hình đã bị đốn thì giờ đây người Suối Giàng vẫn có một cây chè khác để tôn làm cây chè tổ, hằng năm có lễ cúng nghiêm cẩn với thần chè, như người miền xuôi cúng thần lúa vậy!

Từ cây chè tổ đến… thủy tổ cây chè

Dẫn đường cho chúng tôi vào thăm cây chè tổ của Suối Giàng là anh Giàng A Tủa. Phăm phăm len lỏi qua những thân chè phủ đầy địa y rêu mốc, chúng tôi dừng lại trước một cây chè với thân được hợp thành từ ba gốc, tán cây vươn dài ra hai phía, những cành chè mang dáng dấp của một bonsai khổng lồ, đẹp mê hoặc. Đây chưa phải là cây chè to nhất, bởi cây chè cổ to nhất, từng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm và chụp ảnh chung với cán bộ và người dân trong xã nằm ở bản Pang Cáng, sau đó cũng bị chết vì mối đục (và cây chè tổ này cũng đang bị mối đục!).

Chính rừng chè shan tuyết cổ thụ này đã mê hoặc một chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu chè của thế giới, viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (cũ), ông M.K Djemukhatze từ những năm 1960. Hình ảnh rừng chè cổ thụ mênh mông độc nhất vô nhị trên thế giới đã khiến ông dành nhiều tâm sức với cây chè Suối Giàng để cho ra đời một chuyên khảo công phu về chè Việt sau cả chục năm trời đi đi về về với Suối Giàng.

Trong sổ lưu niệm ở xã Suối Giàng còn ghi lại cảm tưởng của Djemukhatze về cây chè và vị chè kỳ diệu ở đây: “Tôi đã đi qua 120 nước có cây chè trên thế giới nhưng chưa thấy ở đâu có cây chè lâu năm như ở Suối Giàng, phải chăng đây là nơi phát tích của cây chè? Chè ở đây độc đáo, trong bát nước chè xanh có đủ 18 vị đầu đẳng của chè thế giới”.

Không dừng lại ở những cảm xúc nồng nhiệt ban đầu dành cho cây chè Suối Giàng, bằng những thực nghiệm khoa học, dựa trên “thuyết tiến hóa” của nhà bác học Darwin, Djemukhatze đã có các kết quả thực nghiệm về sự hình thành và tích lũy catechin (tinh chất chè xanh) trong cây chè hoang dã ở Suối Giàng, đối chiếu với các vùng chè khác trên thế giới để cho ra một kết quả bất ngờ và đầy thuyết phục.

Sơ đồ tiến hóa hóa sinh của cây chè thế giới được M.K. Djemukhatze đưa ra là: Camelia > Thea wetnamica (chè VN)-> Thea fuinamica (chè Vân Nam lá to)-> Thea sinensis (chè Trung Quốc lá nhỏ)-> Thea assamica (chè Assam Ấn Độ). Với chiết xuất catechin từ các mẫu chè cổ của VN (mà cụ thể là ở Suối Giàng) viện sĩ Djemukhatze đã đề xuất tên khoa học mới cho cây chè là Thea wetnamica (chè gốc VN) thay cho tên khoa học Thea sinensis (chè gốc Trung Hoa).

Công trình khoa học về cây chè Việt của viện sĩ M.K. Djemukhatze đã được Nhà xuất bản khoa học Matxcơva đưa in vào năm 1976 dưới tên gọi “Cây chè ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” và đã được dịch ra tiếng Việt. Dĩ nhiên khẳng định được gốc tích VN là “khởi thủy” của cây chè thế giới sẽ chỉ thuần là một giá trị tinh thần, nếu cây chè Việt hôm nay không tạo ra thương hiệu lớn để thu hút hàng trăm triệu người dùng trà trên thế giới.

Ngay tại Suối Giàng, thương hiệu chè Suối Giàng dù đã có một khởi đầu tốt đẹp, được cộng hưởng bởi nhiều giá trị độc đáo riêng có, tuy nhiên đến nay nó vẫn chưa là một thương hiệu mạnh. Thậm chí tiệm trà nào ở Yên Bái cũng trưng biển “chè Suối Giàng”, trong khi số lượng chè của Suối Giàng chỉ có thể sản xuất chừng 100 tấn chè khô. Dù sao thì cũng phải ghi nhận người Suối Giàng vẫn đang có những nỗ lực thầm lặng để gìn giữ hương vị chè “báu vật của trời” này.

LÊ ĐỨC DỤC – ĐỨC BÌNH (nguồn: Tuổi Trẻ 11/11)

Trà Việt, Uống trà , , , ,

Về Sông Cầu xem người dân làm chè đặc sản

Sản phẩm chè của thị trấn Sông Cầu (Đồng Hỷ) từ lâu được biết đến với vị đậm, thơm ngon không kém gì những vùng chè đặc sản như Tân Cương, La Bằng hay Trại Cài… Để tìm được chỗ đứng trên thị trường tiêu thụ chè trong và ngoài tỉnh, người làm chè nơi đây đang chuyển dần từ cách trồng, chế biến chè truyền thống sang quy trình chế biến chè sạch, chè đặc sản.

 

Từ nhiều năm nay, người dân thị trấn Sông Cầu quen với việc trồng chè trung du, tuy dễ trồng, dễ chăm sóc nhưng giá trị thương phẩm không cao; trong vài năm trở lại đây, hầu hết các hộ trồng chè đang chuyển đổi giống chè canh tác truyền thống sang trồng các giống chè mới (chè cành) cho năng suất và chất lượng, đem lại giá trị kinh tế cao hơn so với giống chè trung du. Tổng diện tích đất trồng chè của thị trấn là 400 ha, trong đó 50 ha là diện tích chè giống mới cho năng suất, chất lượng cao như: LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, TRI 777, Bát Tiên… Hiện 25 ha chè giống mới đang cho thu hái.

 

Bà Vũ Thị Thương Huyền, Phó Chủ tịch UBND thị trấn cho biết: Thị trấn xác định xây dựng sản phẩm chè của mình là chè đặc sản. Muốn vậy, không chỉ vận động người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thị trấn còn tuyên truyền, phổ biến tới người dân việc chế biến chè theo quy trình “sạch”. Theo đó, để làm được chè sạch, người dân phải thay đổi tư duy cũng như cách làm chè truyền thống trước đây. Thay vì hái chè búp dài để bán chè tươi, phun thuốc hóa học và không quan tâm tới các quy trình chế biến, bảo quản thì nay làm chè đặc sản, bà con phải tuân thủ một quy trình nghiêm ngặt về cách trồng, chăm sóc và chế biến.

Nhằm giúp người làm chè tại thị trấn có hướng đi đúng trong chuyển đổi cách thức chăm sóc, chế biến chè, tháng 5-2011, Hội Phụ nữ thị trấn phối hợp với Trung tâm Học tập cộng đồng của thị trấn mở lớp tập huấn làm chè đặc sản với 50 thành viên tham gia, tổ chức cho các học viên tham quan các mô hình làm chè đặc sản tại vùng chè Tân Cương.

Chúng tôi tìm đến xóm 5, nơi có nhiều chuyển biến tích cực trong quá trình chuyển đổi từ phương pháp làm chè truyền thống sang làm chè sạch. Đưa chúng tôi đi thăm nương chè vừa mới bón phân, ông Hoàng Xuân Thuỷ, Trưởng xóm 5 cho biết: Muốn có chè ngon phải làm tốt cả quy trình từ trồng, chăm sóc đến thu hái, sao vò và lấy hương. Trước đây, người dân trong xóm chủ yếu dùng phân đạm để bón cho chè nay chuyển sang bón bằng phân sinh học. Khi thu hái, luôn tuân thủ quy trình hái đến đâu hết đến đó, không được để lâu chè sẽ bị ban, bị ôi; khi sao sấy không được để lẫn nước, tránh chè bị dập búp, khu bảo quản, chế biến chè cần cách xa khu chăn nuôi để tránh việc chè thành phẩm có mùi tạp… Hiện tại, trong tổng số hơn 80 hộ làm chè của xóm thì có 10 hộ đang áp dụng phương pháp làm chè sạch theo đúng quy chuẩn với diện tích khoảng 5 ha/80 ha diện tích chè toàn xóm.

 

Nhờ có điều kiện thổ nhưỡng và nguồn nước đầy đủ lại tuân thủ đúng và nghiêm ngặt các quy trình chăm sóc, chế biến mà hiện nay sản phẩm chè đặc sản của xóm 5 có cánh chè xanh, có mùi thơm nhẹ và vị chè đậm đặc trưng. Do đó, giá bán chè của xóm 5 tăng hơn trước, vào thời điểm đầu năm 2010, sản phẩm chè khô của xóm chỉ bán được với giá 30 nghìn đồng/kg (chè trung du) thì hiện tại giá bán loại chè này là 120 nghìn đồng/kg; chè Nhật có giá bán từ 250-280 nghìn đồng/kg.

Rời xóm 5, chúng tôi tìm đến gia đình chị Đinh Thị Phượng tại xóm Tân Tiến. Chị Phượng là 1 trong 50 thành viên tham gia lớp tập huấn làm chè đặc sản do thị trấn tổ chức và đã rất thành công khi trở về thực hiện tại diện tích chè của gia đình.  Khi được hỏi về làm chè đặc sản, chị cho biết: Khi tới học hỏi ở vùng chè ngon, tôi biết được điều quan trọng nhất để làm được chè ngon là khi thu hái phải tuân thủ đúng quy tắc “1 tôm, 2 lá, sau khi thu hái cần sao, sấy chè ngay, tránh để chè mất hết nhựa; khi ốp,lấy hương cần yêu cầu chè phải khô kiệt, không được sống thì cánh chè mới ròn, thơm… Hiện giống chè Kim Tuyên của gia đình chị có giá bán trên thị trường từ 150-200 nghìn đồng/kg, sản phẩm thường được thương lái tự đến nhà tìm mua. Trong Liên hoan Trà Quốc tế Thái Nguyên lần thứ nhất, sản phẩm chè của gia đình chị Phượng đã được thị trấn chọn đem dự thi Búp chè đẹp và đã nhận được giải Bạc.

Hiện tại, 30 hộ trồng, chế biến chè tại thị trấn đã được UBND tỉnh công nhận đủ điều kiện sử dụng nhãn hiệu tập thể chè Thái Nguyên; tháng 3-2012, hai xóm là xóm 5 và xóm 9 vinh dự được công nhận là Làng nghề chè truyền thống cấp tỉnh. Trong Liên hoan TràQuốc tế Thái Nguyên vừa qua, sản phẩm chè của thị trấn vinh dự được nhận các giải thưởng: Cúp Bàn tay bạc, Cúp Búp chè bạc, Văn hóa trà Bạc; sản phẩm chè của 3 hộ gia đình tại xóm 5 và xóm 9 khi đem đi giới thiệu đã được bán với giá 700 nghìn đồng/kg…

 

 Ma Linh
baothainguyen.org.vn
Tin tức

Muốn làm giàu phải sản xuất chè sạch

Đó là một trong những thông điệp được rút ra từ các ý kiến của các đại biểu tại Hội thảo quốc tế về cây chè – Một trong những hoạt động tiêu biểu và là điểm nhấn quan trọng của Liên hoan Trà quốc tế lần thứ nhất – Thái Nguyên, Việt Nam năm 2011

 

Lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh có thế mạnh về chè trong cả nước đã thống nhất ở điểm chung này để định hướng cho địa phương mình thực hiện trong những năm tới.

Hội thảo có sự tham dự Hiệp hội chè Việt Nam, các nhà khoa học, Nhà sử học, các đại biểu các tỉnh trồng chè, đại diện các doanh nghiệp sản xuất, chế biến chè trong và ngoài tỉnh, các vị khách quốc tế đến từ nhiều nước khác nhau, đại diện Ủy ban chè thế giới, Ủy ban chè Châu Âu..

Đồng chí Đặng Viết Thuần, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng BTC Liên hoan điều hành Hội thảo quốc tế về cây chè tại Thái Nguyên.

Tại hội thảo quốc tế này, đại diện tỉnh Thái Nguyên đã giới thiệu những nét khái quát nhất về lịch sử cây chè, công tác trồng, chăm sóc, chế biến và tiêu thụ chè. Bài giới thiệu đã nhấn mạnh: Thái Nguyên là vùng sản xuất chè nổi tiếng của Việt Nam. Xét về diện tích, Thái Nguyên là vùng chè lớn thứ 2 cả nước ( trên 17.000 ha) sau tỉnh Lâm Đồng. Thế nhưng, Thái Nguyên lại là tỉnh dẫn đầu cả nước về sản lượng chè với gần 172.000 tấn/năm. Điều đặc biệt hơn tại 9/9 huyện thành thị của Thái Nguyên, người dân đều tham gia trồng và chế biến chè. Chè Thái Nguyên có thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi về chất đất, khí hậu thích hợp cộng với đó người dân làm chè có kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã tạo lên những sản phẩm trà cánh đẹp, hương thơm, vị cốm, uống “có hậu” với vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng mà không nơi nào có được. Một thông tin đáng mừng với Thái Nguyên là ngày 10/11/2011, tỉnh Thái Nguyênđã chính thức là tỉnh đàu tiên của Việt nam có sản phẩm chè được chứng nhận và gắn Logo Utz Certified. Đây là sản phẩm chè an toàn được kiểm soát từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, có thực hiện truy nguyên nguồn gốc, được ký kết bao tiêu sản phẩm.

Sản xuất chè sạch tại Thái Nguyên.

Nghề sản xuất chè ở Thái Nguyên đã tích tụ hàng trăm năm nay đã tạo thành những làng nghề sản xuất chè truyền thống. Từ năm 2008 đến năm 2011 Thái Nguyên đã có 52 làng nghề sản xuất, chế biến chè được UBND tỉnh ra quyết định công nhận làng nghề. Những làng nghề này từ lâu đã gắn liền với văn hoá mang đậm bản sắc của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên. Năm 2010, số lao động của các làng nghề vào khoảng 35.900 người.

Nhận thức rõ vai trò của việc sản xuất chè an toàn có ý nghĩa sống còn đối với cây chè, tỉnh Thái Nguyên đã và đang triển khai quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn toàn tỉnh làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư sản xuất chè hàng hóa chất lượng, giá trị cao; xây dụng vùng sản xuất nguyên liệu chè an toàn theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu; áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến thành phẩm cuối cùng gắn quy trình sản xuất với việc được chứng nhận bởi các tổ chức chứng nhận trong nước và quốc tế như: VietGAP, GlobalGAP, Uzt Certified…Cũng vì thế 100% sản phẩm của làng nghề chè là sản phẩm chè sạch, chè xanh cao cấp, tiêu thụ tốt ở thị trường nội địa và xuất khẩu.

Sản lượng chè Thái Nguyên đạt trên 172.000 tấn năm.

Thực tế cho thấy cây chè ở Thái Nguyên vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển cả về diện tích cũng như tăng năng suất, nâng cao giá trị sản phẩm trà so với hiện tại. Trong khuôn khổ diễn ra trong một ngày 13/11, hội thảo đã có 6 ý kiến đại biểu trong nước, 6 ý kiến đại biểu quốc tế phát biểu về cây chè. Các ý kiến đã làm rõ những thế mạnh của cây chè, xu hướng phát triển cây chè trong tương lai. Các đại biểu đã chia sẻ kinh nghiệm trồng, chế biến chè, nhu cầu và thị hiếu của người dùng trà trong nước và thế giới đối với sản phẩm trà và cách thức tiếp cận thị trường tiêu thụ trà trên thế giới. Hội thảo đã cho thấy nhu cầu hợp tác trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè giữa các doanh nghiệp, giữa các tỉnh, các nước trên thế giới. Đối với tỉnh Thái Nguyên – Vùng chè nổi tiếng; tại Hội thảo này đã có nhiều ý kiến tâm huyết với ngành chè của tỉnh. Ông Đoàn Anh Tuân, Chủ tịch Hiệp Hội chè Việt Nam khẳng định: Ở Việt Nam, nói đến chè ngon, người ta sẽ nghĩ ngay đến chè Thái Nguyên. Chất lượng chè Thái đã được khẳng định không chỉ trong nước mà còn cả trên thị trường quốc tế. Chè Thái Nguyên đã chinh phục được một số thị trường khó tính như Đài Loan, Đức, Pakistan. Đây là một trong những lợi thế để Thái Nguyên có thể xuất khẩu chè với số lượng lớn trong tương lai, góp phần nâng cao cuộc sống của người trồng chè. Tuy nhiên, giá trị thu được từ chè vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương. Đa phần, các sản phẩm trà xuất khẩu ra nước ngoài vẫn chỉ là chè đen, chưa có các sản phẩm trà xanh. Do vậy, Thái Nguyên cần xây dựng các vùng nguyên liệu vùng chè tập trung để có thể sản xuất ra được nhiều loại trà khác nhau cung cấp cho thị trường các nước trên thế giới.

Các đại biểu khách quốc tế tham dự hội thảo.

Bà Barbara Dufrene, Tổng thư ký Ủy ban Chè Châu âu, Biên tập viên Tạp chí Chè và Cà phê (Pháp) cho rằng: Theo tôi, chè Thái Nguyên có nhiều ưu điểm, hình thức đẹp, chất lượng ngon, tuy nhiên cái yếu nhất của các bạn là thiếu những thông tin cơ bản về sản phẩm trà; Đặc biệt là phải làm cho người dùng chè nắm được quy trình sản xuất sạch. Không chỉ riêng tôi mà rất nhiều người nước ngoài khác muốn được hiểu nhiều hơn nữa về chè Thái Nguyên. Đây cũng là cơ hội để chè Thái Nguyên được thị trường quốc tế biết đến nhiều hơn. Do đó, các bạn cần phải làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền để mọi người biết đến chè Thái Nguyên cũng như chất lượng sản phẩm trà nơi đây.

Ông Manujia Peiris, Giám đốc điều hành, Ủy ban chè thế giới đánh giá: Tôi cũng đã được đi thực tế tại một số vùng chè nổi tiếng của các bạn. Cảm nhận của tôi là các vùng chè ở Thái Nguyên đều rất đẹp, người dân làm chè cần cù, chăm chỉ, chịu khó. Qua đi thực tế tại đây, tôi thấy Thái Nguyên có nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển cây chè, có thể xuất khẩu trà với số lượng lớn ra các nước trên thế giới. Theo đó, các thị trường các bạn nên chú ý tới là các nước Trung Đông, Mỹ, Ma – Rốc, Malaysia, UKraine… Đặc biệt, qua con số chúng tôi nắm được, Châu phi cũng là một thị trường tiêu thụ rất rộng lớn bởi vậy, Thái Nguyên nên tìm kiếm cơ hội để quảng bá và đưa sản phẩm trà đến với khu vực này…

Thái Nguyên giới thiệu ẩm thực trà đến đông đảo khách trong nước và quốc tế.

Từ diễn đàn của Hội thảo này, ngành chè Việt Nam, Thái Nguyên thể hiện một mong muốn, người tiêu dùng hiểu sâu sắc hơn nữa về cây chè, cùng các sản phẩm của nó là Trà mà từ lâu con người đã sử dụng như một thức uống, vừa như một dược liệu quý, bồi bổ sức khỏe , làm cho tinh thần sảng khoái, ngăn ngừa được nhiều loại bệnh tật nguy hiểm cho con người. Qua đây, chúng ta được hiểu thêm về nghệ thuật và thói quen uống trà của mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia. Từ diễn đàn của Hội thảo, những người tham dự được bàn thảo về cách thức hợp tác nghiên cứu và định hướng phát triển cây chè; xây dựng thương hiệu và thị trường cho ngành chè Việt Nam để hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả hơn.

Kết thúc hội thảo, Ban tổ chức đã rút ra những nội dung quan trong được coi là hướng đi của ngành sản xuất chè trong nước nói chung và của Thái Nguyên nói riêng. Những nội dung quan trọng được giới nghiên cứu, các nhà quản lý, doanh nghiệp quan tâm đó là: Phải sản xuất chè sạch, chè an toàn, sản phẩm chè Olong sẽ là sản phẩm được người tiêu dùng ưa chuộng, trong sản xuất và tiêu thụ phải quan tâm chất lượng và mẫu mã đi kèm với đó là công nghệ bảo quản; nhu cầu dùng chè của người dân trên thế giới sẽ tiếp tục gia tăng vì chè là thức uống có lợi cho sức khỏe. Các tỉnh có chè và mỗi quốc gia có chè cần quảng bá văn hóa trà rộng rãi hơn để văn hóa trà là nhu cầu tìm hiểu của người dân trên toàn thế giới….

Trà Nương biểu diễn nghệ thuật pha trà tại Liên hoan Trà quốc tế lần thứ nhất Thái Nguyên Việt Nam năm 2011.

Có thể nói, hội thảo quốc tế về cây chè được tổ chức tại Thái Nguyên đã thành công ngoài mong đợi của của nhiều người trong đó có Ban tổ chức cũng như các vị khách trong nước và quốc tế. Đúng như mục đích của hội thảo đây là diễn đàn quan trọng và thiết thực để ngành chè Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng giới thiệu về cây chè, để ngành sản xuất chè có cái nhìn vừa bao quát, vừa cụ thể từ đó có hành động thiết thực góp phần nâng cao vị thế cây chè trên thị trường trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác, giao lưu quốc tế trong sản xuất chè sạch, chè an toàn – đó là con đường phát triển của ngành chè trong thời kỳ hội nhập./.

Nguồn: Thainguyen.gov.vn

Tác giả: Đình Lộc

Tin tức

Sự tích trà Tân Cương

Chuyện xưa kể rằng, có đôi trái gái yêu nhau tha thiết, thủy chung, nhưng vì chàng trai quá nghèo nên không được sự chấp thuận của cha mẹ cô gái vốn là một gia đình quan lang giàu có

Mọi sự ngăn cản, cấm đoán cũng chỉ khiến đôi trai gái thêm quyết tâm mong ngóng chờ đợi nhau. Tiếng sáo của chàng Cốc không còn vọng đến nàng Công. Nước mắt nàng Công chỉ mình nàng Công biết. Nhớ thương tuyệt vọng, chàng Cốc héo hon mà chết. Trời đất cảm thương hóa chàng thành một quả núi sừng sững giữa trời. Suốt bốn mùa, gió man mác trong cây lá như tiếng sáo xa xăm vọng về. Còn nàng Công, trong buồng giam nhớ thương chàng Cốc khôn nguôi. Nàng khóc ngày khóc đêm. Cho đến một ngày kia cả tấm thân nàng cũng hóa thành nước mắt. Những giọt nước mắt yêu thương thủy chung qua năm tháng thấm sâu vào đất, chảy thành dòng theo vết nứt tìm về núi Cốc. Mỗi năm khi mùa hè đến, trên núi Cốc và đôi bờ sông Công nở đầy loài hoa sim tím, như thầm nhắc thiên diễm tình thuở ấy. Nàng Công quặn mình đau đớn, uất hận khao khát. Đó là những ngày mưa lũ, nước sông Công dâng ào ạt để gần núi Cốc hơn.

Các cụ già kể lại với hậu thế rằng, nước mắt nàng Công thấm vào rễ cây chè mà tạo nên vị ngọt cứ lưu luyến, ngân nga, để người ta nhấp chén trà một lần rồi nhớ mãi mà chẳng biết vì sao.

Dạ Phong

Sưu tầm từ Internet

TraThai.Net

Chuyện trà

Vòng Chung kết Cuộc thi ” Người đẹp xứ Trà“

Tối 13/11, 30 thí sinh được lựa chọn tiếp tục phần thi trình diễn tại Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Nguyên

Đến dự có các đồng chí: Phạm Xuân Đương, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên; Dương Ngọc Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Nhữ Văn Tâm, Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo Cục nghệ thuật biểu diễn (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); và đông đảo nhân dân đến xem và cổ vũ cho các thí sinh

Ban giám khảo của cuộc thi gồm: Nhạc sĩ Đào Đăng Hoàn; Phó Cục trưởng Cục nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hội đồng giám khảo; Ông Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký hội sử học Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Xưa và Nay; bà Hoàng Thị Yến, Hoa hậu Quý bà Việt Nam 2009, Á hậu II cuộc thi Hoa hậu Quý bà Thế giới 2009; Nhà thiết kế Ngân An, Giám đốc Công ty mẫu thiết kế thời trang Ngân An; Ông Mông Đông Vũ, kỷ lục gia sưu tầm ấm trà Việt và nhà báo Nguyễn Ngọc Tình.

Nằm trong chương trình của vòng chung kết cuộc thi Người đẹp xứ Trà, các thí sinh tiếp tục trình diễn các phần thi: Áo dài, Áo tắm và trang phục dạ hội. Tại các phần thi các thi sinh đã thể hiện được vẻ đẹp thướt tha trong tà áo dài truyền thống, vẻ kiêu sa trong những bộ váy dạ hội và nét khỏe khoắn, trẻ trung trong những bộ áo tắm màu hồng liền mảnh. Phần trình diễn của các thí sinh đã dành được nhiều tình cảm của khán giả có mặt tại Trung tâm Văn hóa Thông tin. Vào tối 15/11, đêm bế mạc của Liên hoan Trà Quốc tế Thái Nguyên, Việt Nam 2011, danh sách các thí sinh được đi tiếp sẽ được Ban Giám khảo công bố để từ đó tìm ra Người đẹp nhất cho Cuộc thi

Cũng tại đêm thi, khán giả còn được thưởng thức các màn nghệ thuật đặc sắc do các Nghệ sỹ nổi tiếng trình diễn như: Tân Nhàn, Việt Hoàn, Quang Linh, Uyên Linh…Các màn biểu diễn đã đem lại không khí sôi nổi và hào hứng cho đêm thi.

Nguồn: thainguyen.gov.vn
Tác giả: Thanh Mai – Đức Cường – Quang Hưng

Tin tức ,

Liên hoan Trà quốc tế lần thứ nhất – Thái Nguyên, Việt Nam 2011 chính thức khai mạc

Tối 12/11, tại khu sân khấu Khu du lịch Hồ Núi Cốc, Liên hoan Trà Quốc tế lần thứ nhất – Thái Nguyên, Việt Nam 2011 đã chính thức khai mạc. Đây là sự kiện văn hóa lớn mang tầm quốc gia lần đầu tiên được tổ chức tại tỉnh Thái Nguyên.

Dự Lễ khai mạc Liên hoan có đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Các đồng chí Nguyên lãnh đạo Đảng, Chính phủ; Nhà nước, Quốc hội qua các thời kỳ;

Dự lễ Khai mạc còn có các đồng chí lãnh đạo các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương: Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, Viện Kiểm sát tối cao, Bộ Ngoại giao, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội phụ nữ, Hội Nông dân, Hiệp hội Chè Việt Nam; Đại biểu các Ủy ban của Quốc hội; Lãnh đạo 49 tỉnh, thành phố trong cả nước; 28 đoàn đại diện các Đại sứ quán ngoại giao, tổ chức quốc tế; 30 tổ chức Phi chính phủ nước ngoài; các đoàn trà, nghệ thuật của Trung Quốc; Ấn Độ; Lào; Nhật Bản; Hàn Quốc; Phần Lan.

Về phía tỉnh Thái Nguyên có đồng chí Phạm Xuân Đương, Uỷ viên trung ương đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên; các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh ủy; các đồng chí lãnh đạo tỉnh Bắc Thái, Thái Nguyên các thời kỳ; lãnh đạo các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, lãnh đạo 9 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh, đại diện các doanh nghiệp, doanh nhân trong và ngoài tỉnh và đông đảo nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã dự lễ Khai mạc Liên hoan.

Sau màn biểu diễn nghệ thuật mở đầu cho lễ Khai mạc với chủ đề “Cõi trà Thiên thai trên Thủ đô Gió ngàn” giới thiệu về Thái Nguyên, về cây chè được thể hiện qua vũ đạo, hình ảnh, âm thanh, ánh sáng hiện đại, hoành tráng, đồng chí Dương Ngọc Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã có bài phát biểu khai mạc.

Bài phát biểu của đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Việt Nam, dải đất hình chữ S xinh đẹp có khí hậu nhiệt đới gió mùa là một trong những chiếc nôi của cây chè.  Đến nay, cả nước có khoảng 130 nghìn ha chè các loại,  năng suất bình quân đạt hơn 77tạ /ha, sản lượng chè cả nước đạt gần 824 nghìn tấn búp tươi. Trà Việt Nam được xuất khẩu sang 110 quốc gia và vùng lãnh thổ, giá trị xuất khẩu đạt gần 200 triệu USD. Việt Nam hiện đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng và xuất khẩu trà. Trong hương sắc của Trà Việt, sản phẩm trà Tân Cương của Thái Nguyên  từ lâu đã được người tiêu dùng trong nước vinh danh là “Đệ nhất danh trà“. Với diện tích khoảng 19.000 ha, Thái Nguyên đứng thứ 2 cả nước sau Lâm Đồng về diện tích canh tác cây chè. Phát triển cây chè đã trở thành một trong những trọng tâm của Chương trình xây dựng Nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên. Với phương châm “Đẩy nhanh việc đưa các giống chè mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào thay thế diện tích chè giống cũ già cỗi năng suất thấp; tập trung trồng các giống chè phù hợp, có năng suất, giá trị kinh tế cao, Thái Nguyên phấn đấu đến năm 2015 toàn tỉnh có 50% diện tích chè giống mới, có nhiều làng nghề và doanh nghiệp sản xuất chè có thương hiệu mạnh trên thị trường, xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa theo tiêu chuẩn ViệtGap”. Nhiều vùng chè xanh đặc sản tại thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương… với các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng Quốc gia và Quốc tế đang góp phần tiếp tục khẳng định thương hiệu “Đệ nhất danh trà” của vùng đất Thái Nguyên.

Liên hoan trà Quốc tế lần thứ nhất Thái Nguyên -Việt Nam 2011 diễn ra từ ngày 9 đến 15/11/2011,  là một sự kiện lớn về kinh tế, văn hoá – xã hội, nơi hội tụ của văn hóa trà Việt và thế giới, nơi tôn vinh người trồng chè, các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh và xuất khẩu trà. Với sự tham dự của các đoàn trà đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ có sử dụng các sản phẩm trà và nhập khẩu trà của Việt Nam, đó là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Phần Lan, Srilanka, Lào, Đài Bắc và nước chủ nhà Việt Nam; 30 đoàn trà các tỉnh có thế mạnh về cây chè; các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến chè trong cả nước, 44 làng chè nổi tiếng Thái Nguyên cùng hơn 3.000 khách quý đến với liên hoan.

Tại Liên hoan trà Quốc tế lần thứ nhất Thái Nguyên Việt Nam 2011, sẽ có gần 20 hoạt động được tổ chức với những nội dung phong phú, hấp dẫn. Đến với Liên hoan, quý khách được hòa mình vào không gian văn hóa trà đặc sắc, để cùng tham dự nhiều hoạt động sôi nổi, hấp dẫn; xúc tiến các hoạt động liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư, đặc biệt là phát triển sản xuất cây chè, chế biến và tiêu thụ sản phẩm trà.

Phát biểu tại lễ Khai mạc, đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chinh phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Thái Nguyên là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, một vùng chè nổi tiếng trong cả nước. Qua quá trình phát triển, sản phẩm trà của Thái Nguyên được nâng lên về chất lượng, tạo việc làm thu nhập cho hàng chục vạn gia đình nông dân, trở thành cây xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống cho nhân dân. Đồng chí cũng biểu dương nỗ lực cố gắng của các địa phương trồng chè, tinh thần vượt khó của hàng chục nghìn người dân trồng và các doanh nghiệp chế biến chè trong cả nước; Biểu dương tỉnh Thái Nguyên đã làm tốt công tác xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực để tổ chức liên hoan, qua đó tôn vinh người trồng, chế biến chè, tạo điều kiện cho người trồng chè, nhà sản xuất, chế biến, nhà khoa học, người tiêu dùng giao lưu tìm kiếm cơ hội phát triển cây chè và sản phẩm Trà Việt Nam, tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh nâng cao thương hiệu chè Việt Nam.

Với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, đồng chí Thủ tướng Chinh phủ mong muốn ngành chè phát huy thành tựu vượt qua thách thức nâng cao năng suất, sản lượng đạt 1 triệu tấn chè búp tươi/ năm, đưa ngành chè phát triển, đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước.

Đồng chí cũng yêu cầu các tỉnh, các Bộ, Ngành Trung ương tăng cường chỉ đạo cơ cấu lại sản xuất,  đưa giống chè phù hợp vào trồng, cơ cấu lại và đa dạng hóa sản phẩm Trà; nâng cấp các nhà máy chế biến chè theo hướng hiện đại đồng thời phát triển sản phẩm chè truyền thống, tôn vinh nghệ nhân trong nghề sản xuất, chế biến chè.

Tổ chức sản xuất theo hướng kết hợp giữa người trồng chè với các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ chè, góp phần  tăng thu nhập cho người trồng chè. Thực hiện tốt các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng giá chè Việt Nam bằng giá xuất khẩu của các nước, từng bước khẳng định thương hiệu chè Việt, nâng kim ngạch xuất khẩu gấp 2, 3 lần hiện nay, tạo diện mạo mới cho ngành chè gắn với xây dựng nông thôn mới.

Đối với tỉnh Thái Nguyên, đồng chí mong muốn tỉnh phát huy truyền thống, vượt mọi khó khăn thách thức thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đã đề ra, xây dựng Thái Nguyên thành tỉnh công nghiệp hiện đại trước năm 2020, xứng đáng là trung tâm vùng trung du miền núi Bắc Bộ.

Phát biểu đáp từ, đồng chí Phạm Xuân Đương, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên cảm ơn những tình cảm, sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ ngành Trung ương dành cho Thái Nguyên, cho những người trồng, chế biến, kinh doanh chè của Thái Nguyên và hứa sẽ tiếp tục phát huy truyền thống quê hương cách mạng, tiếp tục đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương; Khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển ngành chè, nâng cao thu nhập cho nhân dân. Đồng chí mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Nhà nước, Quốc hội để Thái Nguyên sớm trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020.

Một nội dung quan trọng làm nên sự hấp dẫn của lễ Khai mạc Liên hoan chính là chương trình nghệ thuật với chủ đề “Hương sắc Trà Việt”. Đây là chương trình do các nhà văn, nhạc sỹ, nhà biên kịch, đạo diễn nổi tiếng của Việt Nam tham gia viết kịch bản và dàn dựng. Kịch bản văn học: nhà văn Nguyễn Khắc Phục, NSND Ứng Duy Thịnh; Kịch bản sân khấu hóa và biên tập lời bình: Vũ Hải; Âm nhạc: NSUT Trọng Đài và nghệ sỹ Minh Tiến; Tổng đạo diễn NSND Lê Hùng và Vũ Hải; Các biên đạo múa: Thanh Phong, Hữu Từ, Kiều Lê, Quỳnh Lan, Danh Long.

Tham gia biểu diễn trong chương trình có trên 800 diễn viên người và diễn viễn Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam, các đoàn nghệ thuật và trường nghệ thuật tại Thái Nguyên. Chương trình còn có sự góp mặt của các ca sỹ nổi tiếng như: Thanh Lam, Trọng Tấn, Anh Thơ.

Chương trình là một tổ khúc âm nhạc lớn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời bình, ca khúc, vũ điệu, âm nhạc, ánh sáng lase, màn hình LED … giúp người xem cảm nhận được những nét tinh túy làm nên giá trị của mảnh đất được mệnh danh là “Đệ nhất danh trà”. Chương trình gồm 8 chương, với các màn trình diễn các điệu múa dân tộc biểu diễn trên nền những bài hát nổi tiếng ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi mảnh đất, con người Thái Nguyên hiền hòa, mến khách, những bài ca đã đi cùng năm tháng, gắn bó với đất và người Thái Nguyên như: Huyền thoại Hồ Núi Cốc, Chiều quê hương, Bình minh nương chè. Thông qua các hình tượng nghệ thuật, chương trình đã gợi lại lịch sử cây chè, giới thiệu về Thái Nguyên, về Thủ đô gió ngàn với những nét đặc trưng, riêng có, đồng thời giới thiệu về các vùng chè nổi tiếng đã làm nên thương hiệu Trà Thái Nguyên.  Các vũ điệu, hình ảnh đã thể hiện nét đẹp của những con người trong lao động sản xuất thông qua đó tôn vinh những người trồng chè và chế biến chè. Chương trình nghệ thuật cũng đã dành thời lượng giới thiệu các vùng chè trên toàn quốc với những nét âm nhạc, vũ điệu đặc sắc của các vùng miền trên Tổ quốc, tái hiện không khí tưng bừng của Liên hoan, của đất và người Thái Nguyên vui đón bạn bè Quốc tế cùng những nét âm nhạc, những vũ điệu đặc sắc giới thiệu văn hóa ẩm thực trà của các nước tham gia Liên hoan.

Tiếp đó là màn pháo hoa nghệ thuật và biểu diễn lase, ánh sáng hoành tráng. Lần đầu tiên người dân Thái Nguyên được chứng kiến màn pháo hoa và ánh sáng nghệ thuật ngoạn mục, hiện đại như vậy. Những màn pháo hoa nhiều màu sắc trên bầu trời Thái Nguyên đã lưu lại những khoảnh khắc ấn tượng, đáng nhớ cho mỗi người dân và du khách có mặt, thể hiện niềm tự hào của người dân Thái Nguyên hân hoan chào đón Liên hoan, chào đón khách quý từ phương xa đến với Thái Nguyên.

Lễ Khai mạc Liên hoan Trà quốc tế lần thứ nhất, Thái Nguyên – Việt Nam 2011 đã thành công tốt đẹp. Cùng với gần 20 sự kiện, hoạt động diễn ra trong suốt thời gian diễn ra Liên hoan, hy vọng các vị khách quí trong và ngoài nước và nhân dân sẽ lưu giữ những khoảnh khắc ấn tượng, thú vị về Liên hoan trà Quốc tế lần thứ nhất Thái Nguyên – Việt Nam 2011.

Nguồn: thainguyen.gov.vn
Tác giả: Nhóm PV

Tin tức ,

Trà Thái trong tâm hồn người Việt

 (Dân trí) – Bộ NN&PTNT cho biết Liên hoan Trà Quốc tế lần thứ nhất sẽ được khai mạc tại Thái Nguyên vào tối 11/11. Festival sẽ có nhiều hoạt động hấp dẫn giới thiệu, quảng bá các sản phẩm trà Việt Nam nói chung và trà Thái Nguyên nói riêng tới bạn bè quốc tế.

Festival trà Quốc tế lần thứ nhất tại Thái Nguyên sẽ được tổ chức từ ngày 11-15/11/2011, tại thành phố Thái Nguyên và Khu du lịch Hồ Núi Cốc với sự tham gia của 10 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng 30 làng nghề truyền thống, 25 doanh nghiệp kinh doanh chè trên địa bàn tỉnh.

Carnaval sẽ có sự tham gia biểu diễn của gần 2 nghìn người, với hơn 20 xe mô hình, xe hoa cổ động được thiết kế theo nhiều chủ đề khác nhau. Phần diễu hành cổ động sẽ diễn ra với 3 hoạt động chính: Diễu hành xe cổ động; khai mạc và biểu diễn nghệ thuật chào mừng có bắn pháo bông, pháo hoa nghệ thuật chào mừng, carnaval Trà Thái Nguyên 2011, đại biểu và nhân dân cùng hòa mình trong vũ điệu đường phố.
Người dân huyện Phú Lương – Thái Nguyên chuẩn bị sẵn sàng cho Festival Trà Quốc tế. (Ảnh: Báo Thái Nguyên)

Trên các xe diễu hành sẽ có những người mẫu trong trang phục áo dài truyền thống in họa tiết về trà, đội vương miện hoa chè thể hiện cho biệt danh Đệ nhất danh trà; hàng trăm diễn viên trong trang phục cây và hoa với những chiếc mũ được thiết kế hình chùm hoa chè, nhánh cây độc đáo, biểu diễn những động tác vui nhộn, khỏe khoắn; diễn viên trong trang phục công nhân, nông dân thể hiện cảnh sản xuất chè, ca ngợi những người lao động hăng say với cây chè…

Đặc biệt, 16 người mẫu được lựa chọn từ Cuộc thi Người đẹp xứ Trà trong trang phục của các quốc gia tham dự Liên hoan; 40 du khách quốc tế biểu diễn ngẫu hứng… Sự vui nhộn đặc trưng của caraval là sự xuất hiện những chú hề, diễn viên đi cà khoeo vừa diễu hành vừa biểu diễn võ thuật, nhóm múa lân trình diễn các hoạt động leo cột, bắt bóng, đội rốn lùn, rốn thú, rốn người… hứa hẹn tạo nên một không khí vui nhộn, tưng bừng, hào hứng, một cảm xúc thăng hoa của mỗi người khi tham gia lễ hội.

Festival trà Thái Nguyên nhằm giới thiệu, quảng bá các sản phẩm trà Việt Nam nói chung và trà Thái Nguyên nói riêng tới du khách trong nước và quốc tế. Festival cũng là dịp để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về cây chè và sản phẩm trà giữa các doanh nghiệp trồng, chế biến, tiêu thụ chè trong nước và quốc tế, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với cây chè và sản phẩm trà Việt Nam.

Anh Thế – Quốc Đô

http://dantri.com.vn/c76/s76-533451/tra-thai-trong-tam-hon-nguoi-viet.htm

Tin tức ,

Một người ngoại quốc mê trà Thái

Mới đây, chúng tôi được cơ quan giao nhiệm vụ tham gia một lớp tập huấn nghiệp vụ phục vụ Liên hoan Trà Quốc tế. Thật tình cờ, tại lớp tập huấn, tôi được hội ngộ với cô bạn học cũ. Biết tôi đang được phân công tuyên truyền phục vụ Liên hoan, cô hỏi rất nhiều về các vùng chè trong tỉnh. Điều này làm tôi ngạc nhiên vì bạn tôi là giáo viên giảng dạy tiếng Anh ở một trường THPT, việc tìm hiểu về các vùng chè này dường như trái với công việc hiện tại của cô. Thì ra, cô tìm hiểu giúp một người bạn nước ngoài. Thấy thú vị nên tôi nhận lời làm người đưa đường cho anh bạn nước ngoài đó.

Lần đầu gặp tôi, anh bạn người nước ngoài nói từ “xin chào” bằng tiếng Việt rất ngọng ngịu. Rồi anh tự giới thiệu mình tên là Jan Pokorny, sinh ra, lớn lên và làm việc tại Thủ đô Praha của đất nước Tiệp Khắc (cũ) – nay là Cộng hòa Séc. Theo nhiều chuyên ngành đào tạo như báo chí, công nghệ thông tin, nhưng hiện nay, Jan lại làm công việc của một hướng dẫn viên du lịch. Đây là lần thứ 6 anh đến Việt Nam, nhưng là lần đầu đến với Thái Nguyên. Mục đích của Jan lên Thái Nguyên là tìm hiểu thị trường làm du lịch vì qua báo Thái Nguyên điện tử, anh biết Liên hoan Trà Quốc tế sắp diễn ra tại đây và sẽ có nhiều nước trên thế giới tham gia. Anh tâm sự: Mục đích chính của chuyến đi là vậy, nhưng đến đây, tôi thấy một điều rất lạ là khi làm việc với một ai đó, thay vì hỏi tôi cần gì, họ lại pha trà mời khách nhâm nhi rồi mới vào công việc chính. Điều này đã thôi thúc tôi tìm hiểu về cây chè và sản phẩm Trà Thái Nguyên được làm như thế nào, có ý nghĩa đối với đời sống của người Việt Nam như thế nào mà hầu như nhà nào cũng sử dụng loại đồ uống này…

 

Vậy là chúng tôi cùng nhau rong ruổi đến các vùng chè trong tỉnh. Khi đến với vùng chè Tân Cương (T.P Thái Nguyên), Jan thích thú vô cùng, anh không ngần ngại trèo lên đồi hái chè với người dân, rồi chụp ảnh, lấy tư liệu, ghi chép rất tỷ mỉ. Anh cũng rất thích thú khi đến với vùng chè Điềm Mặc, Bình Thành… của huyện Định Hóa. Không dừng lại ở đó, Jan còn bỏ cả một ngày lăn lộn ở vùng chè Trại Cài (Đồng Hỷ) để tìm hiểu quy trình chăm sóc, chế biến chè của người dân nơi đây. Jan nói: Các vùng chè của Thái Nguyên đều rất đẹp. Ở đâu tôi cũng thấy những đồi chè xanh mướt, nhấp nhô như sóng lượn. Người dân thì thân thiện, họ không ngần ngại chỉ cho tôi cách chăm sóc, thu hái, chế biến và bảo quản chè. Đây là lần đầu tiên tôi được tìm hiểu về quy trình đầy thú vị này. Điều tôi ấn tượng sau những ngày tìm hiểu là chè Thái Nguyên của các bạn được chế biến bảo đảm an toàn, có hương vị rất thơm và quyến rũ. Ở đất nước chúng tôi thường chỉ sử dụng trà đen được sản xuất từ nguyên liệu chè Thái Nguyên, tuy nhiên, khi uống trà xanh Thái Nguyên, nhất là trà Trại Cài, tôi rất thích. Khi mới uống, tôi thấy có vị chát, nhưng uống xong lại thấy có vị ngọt rất quyến rũ…

 

Jan say sưa nói với tôi về chè Thái Nguyên và anh cho rằng đây là một điều rất thú vị trong chuyến đi này của anh. Với khả năng của một nhà báo chuyên nghiệp, Jan đã hoàn thành bài viết về vùng chè Tân Cương, đưa lên trang web của riêng anh và gửi cho một số tờ báo điện tử của đất nước mình. Tiếp theo bài viết này, anh sẽ hoàn thành bài viết về vùng chè Định Hóa, vùng chè Trại Cài. Mong muốn của anh là qua những bài viết này, nhiều người dân ở Cộng hòa Séc sẽ biết đến Thái Nguyên, biết đến vùng chè Thái Nguyên và tìm đến đây để khám phá, thưởng thức trà Thái, nhất là trong dịp diễn ra Liên hoan Trà Quốc tế vào tháng 11 tới.

 

Ý tưởng và việc làm của Jan thật có ý nghĩa khi Liên hoan Trà Quốc tế đang đến gần. Mong rằng sẽ có nhiều người nước ngoài yêu thích và góp phần quảng bá cây chè, sản phẩm trà Thái Nguyên như Jan để sản phẩm này của chúng ta được khắp nơi trên thế giới biết đến.

 Tùng Lâm

http://www.baothainguyen.org.vn
TraThai.Net

Tin tức ,